Chữa cảm mạo, ho, sốt nóng với cây đại ngải

Cây đại ngải còn có tên khác là đại bi, từ bi xanh, bơ nạt, người Tày gọi là phặc phả, người Thái gọi là co nát. Là loại cây nhỏ, cao khoảng 1 - 3m, thân phân cành ở phía ngọn, nhiều lông. Lá mọc so le, phiến lá có lông, mép có răng cưa hay nguyên. Cụm hoa hình ngù ở nách lá hay ở ngọn, gồm nhiều đầu, trong mỗi đầu có nhiều hoa màu vàng. Quả bế có lông.

Cây ra hoa tháng 3 - 5, có quả tháng 7 - 8. Toàn cây có lông mềm và tinh dầu thơm. Cây mọc hoang khắp nơi, nhiều nhất ở trung du và miền núi. Thu hái toàn cây vào mùa hạ và mùa thu, dùng tươi, hoặc phơi hay sấy khô.

Theo y học cổ truyền, cây đại ngải có vị cay và đắng, mùi thơm nóng, tính ấm; có tác dụng khu phong, tiêu thũng, hoạt huyết, tán ứ. Có công dụng trị thấp khớp, đòn ngã tổn thương, sản hậu đau lưng; đau bụng sau khi sinh, đau bụng kinh; cảm mạo,... Dùng ngoài chữa chấn thương, mụn nhọt, ghẻ ngứa, lấy lá giã đắp hoặc nấu nước tắm. Có thể làm thuốc ngâm rượu để xoa bóp chỗ đau.

Một số bài thuốc thường dùng:

Bài 1: Chữa ho do cảm mạo: Lá đại ngải 200g, củ sả 100g, trần bì 50g, lá chanh 50g, rễ thủy xương bồ 100g, rễ cà gai leo 100g. Tất cả rửa sạch, phơi khô, cắt nhỏ cho vào ấm đổ nước ngập sắc còn khoảng 200ml, cho nước thuốc ra, đổ thêm 300ml nước sắc còn 200ml, trộn lẫn 2 lần nước thuốc. Ngày uống 40ml, chia làm 3 lần, uống thuốc còn ấm. Dùng liền 5 ngày.

Cây đại ngải.

Bài 2: Chữa đầy bụng, khó tiêu do thức ăn sống, lạnh: Lá đại ngải 30g tươi sắc với 500ml nước chia 2 lần uống trong ngày, uống 3 ngày.

Bài 3: Hỗ trợ điều trị thấp khớp: Đại ngải (thân, rễ) khô 20g, thiên niên kiện 20g, ké đầu ngựa 10g, bạch chỉ 20g. Tất cả đổ 700ml nước sắc còn 300ml nước, chia 3 lần uống trong ngày. Dùng 10 - 15 ngày.

Bài 4: Ðau bụng kinh: Rễ đại ngải 30g, ích mẫu 15g, sắc uống. Đổ 800ml nước sắc còn 300ml nước, chia 3 lần uống trong ngày, uống trước chu kỳ kinh 10 ngày. Dùng liền 5 ngày.

Bài 5: Chữa ghẻ nước: Lá đại ngải tươi, lá hồng bì dại, mỗi thứ một nắm, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt đặc bôi.

Bài 6: Chữa cảm mạo, ho, sốt nóng: Dùng 5 -12g lá đại ngải tươi nấu nước uống. Có thể nấu nước xông cho ra mồ hôi, dùng riêng hay phối hợp với các loại lá khác có tinh dầu như lá sả, bưởi, cam, tre... mỗi thứ một nắm cho vào nồi đổ ngập nước đun sôi để xông. Xông ở nơi kín gió trước, trong và sau khi xông phải lau khô mồ hôi… Có thể xông từ 2 - 3 lần trong 1 tuần khi dứt cảm cúm có sốt nhẹ.

Lương y Hữu Nam

Hỗ trợ điều trị tăng huyết áp với cây hoa ngâu

Theo Y học cổ truyền, hoa ngâu có vị cay ngọt, giúp giải uất kết, làm thư giãn bên trong người, giúp tỉnh rượu, sạch phổi, tỉnh táo đầu óc, sáng mắt, ngưng phiền khát. Hoa ngâu được dùng chữa chứng đầy trướng khó chịu ở ngực, chứng nghẹn hơi mới phát, chữa ho hen và váng đầu, nhọt độc...

Ngâu hay còn gọi là ngâu ta để phân biệt khi loài ngâu ngoại lai. Là loại cây dạng bụi có thể cao tới 3,6 mét. Tán dạng tròn, phân cành nhiều. Lá dạng lá kép lông chim, lá chét dạng trứng ngược có đầu tròn, đuôi nhọn hoặc nêm. Hoa nhỏ li ti màu vàng, tự bông dạng chùm mọc ở nách lá, cho mùi thơm dịu thanh khiết. Khác với ngâu Tàu có mũi lá nhọn, ngâu ta có đầu lá tròn và dáng cây mọc thành bụi lớn hơn.

Hoa ngâu nhỏ, màu vàng, mọc thành chùm ở kẽ lá, rất thơm, thường được dùng để ướp trà và làm vị thuốc. Cây mọc hoang hoặc được trồng làm hàng rào, trồng trong chậu. Hiện nay nhiều nơi trồng để làm thuốc hiệu quả rất cao.

Hoa ngâu có vị cay ngọt được dùng để ướp trà và làm thuốc.

Một số bài thường dùng:

Bài 1: Hỗ trợ điều trị tăng huyết áp: Hoa ngâu 10g, hoa cúc 30g. Tất cả cho vào ấm hãm với nước sôi. Ngày uống 3 lần vào sáng, trưa, tối, uống lúc nguội. Mỗi liệu trình uống trong 15 ngày.

Bài 2: Chữa chứng bế kinh: Hoa ngâu 10g, rượu 50g. Cho hoa vào rượu, thêm vào chút nước, nấu cách thủy đến khi hoa chín nhừ, để nguội uống. Uống trước ngày có kinh 5 ngày, ngày uống một lần vào buổi tối trước khi đi ngủ, uống liền 5 ngày.

Bài 3: Hỗ trợ điều trị hen suyễn: Uống trà có ướp hoa ngâu hoặc hoa ngâu ngâm nước sôi già để nguội uống đều có kết quả tốt.

Bài 4 : Đau nhức xương khớp khi thay đổi thời tiết: Cành lá ngâu 30g, dây đau xương 20g, cốt toái bổ 10g, ké đầu ngựa 10g. Tất cả cho vào ấm, đổ 700ml nước, đun nhỏ lửa còn 200ml nước, chia 3 lần uống trong ngày. Dùng liền 10 ngày.

Bài 5: Chữa sưng đau, bầm tím do ngã: Hoa ngâu, lá ngâu mỗi thứ 50g. Gộp chung cả hai thứ, cho 700ml nước, đun nhỏ lửa cô thành cao. Mỗi lần dùng, bôi một ít cao này lên vải mỏng đắp vào chỗ vết thương sưng đau, 2 giờ thay băng một lần, ngày 2 lần. Đắp đến khi vết thương giảm sưng đau. Hoặc cành lá ngâu, lá xuyên tâm liên, lá dâm bụt mỗi thứ 1 nắm nhỏ, giã nát đắp vào vết thương, 2 giờ thay băng 1 lần, ngày đắp 2 lần.

Chú ý: Phụ nữ mang thai không được sử dụng đơn thuốc có hoa ngâu.

Bác sĩ Nguyễn Huyền

Hạt kê vàng tí hon, thuốc quý của muôn nhà

Cây kê còn gọi là tiểu mễ, bạch lương túc, túc cốc, cốc tử… được trồng phổ biến và khá quen thuộc với mọi người. Hạt kê được xem là loại lương thực phụ, trong nhân dân thường nấu cháo kê hay hay ăn với bánh đa gọi là bánh đa kê được nhiều người ưa thích. Không chỉ sử dụng làm thực phẩm, là loại giàu dược tính nên hạt kê được sử dụng trong trị liệu nhiều bệnh.

Theo Đông y, kê có vị ngọt, tính hơi hàn, có tác dụng bổ trung ích khí, trừ được những chứng phiền khát. Cháo kê thông được tiểu tiện, chữa được chứng phiền khát vì dạ dày nóng quá. Hạt kê có tác dụng hòa trung, bổ thận, khỏe tì vị trừ nhiệt, giải độc, giải khát, lợi tiểu tiện. Chủ yếu dùng cho tì vị hư nhiệt, đau bụng nôn mửa, chống thiếu nước khi tiêu chảy. Theo y học hiện đại, hạt kê chứa rất nhiều melatonin, chất có tác dụng trấn tĩnh tinh thần và gây buồn ngủ, vì thế cháo kê là một món ăn rất bổ dưỡng giúp có được một giấc ngủ ngon.

Hạt kê có tác dụng hòa trung, bổ thận, giải độc, tiêu khát...

Một số bài thuốc chữa bệnh từ hạt kê:

Cầm đi lị: Kê để lâu năm đun với nước để uống. Dùng trong 3 - 5 ngày.

Trẻ nhỏ bị cam tích, tiêu hóa kém: Kê 100g, khoai mài lượng vừa đủ, đun thành cháo ăn. Cho trẻ ăn sáng, tối, liên tục trong 10 ngày.

Trị chứng mồ hôi trộm, xương nóng: Kê dẻo lượng vừa đủ, đun cháo ăn. Dùng trong 5 ngày.

Tì vị hư yếu, tiêu hóa kém, đau bụng nôn mửa: Bột kê 150 - 200g hòa với nước, viên lại thành viên. Mỗi lần ăn 30 - 50 viên, chưng chín xong cho thêm ít muối, ăn không hoặc ăn với canh.

Người cao tuổi gầy yếu, phụ nữ sau đẻ thiếu sữa: Kê 30 - 50g đun cháo cho thêm đường đỏ đủ lượng đánh đều, ăn lúc nóng hoặc dùng kê, khoai lang (mỗi thứ 50g), đun thành cháo ăn vào sáng và tối. 10 ngày là một liệu trình.

Cháo gà nấu kê, món ăn bổ dưỡng.

Phụ nữ trong thời kỳ mang thai bị khí hư quá nhiều: Dùng kê 50g, hoàng kỳ 50g, cho vào nồi đổ đủ nước nấu thành cháo ăn. Ngày ăn 1 lần, ăn mấy ngày liền.

Tiêu hóa kém làm cho mất ngủ: Kê 25g, bán hạ đã chế biến 10g, sắc để uống.

Miệng khô, dạ dày nóng, tiểu tiện khô: Kê để lâu năm đun thành cháo mà ăn.

Cháo gà nấu kê: Vo hạt kê và ngâm trong khoảng 1 giờ rồi vớt ra để ráo. Gà làm sạch chặt làm bốn miếng luộc với nước dùng hay nước dừa non. Khi gà chín vớt ra để ráo và xé thịt gà ra. Sau đó bỏ hạt kê đã ngâm vào nồi nước luộc gà nhớ đun nhỏ lửa và thường xuyên khuấy đều. Khi cháo chín nêm nếm gia vị và múc cháo ra bát, rắc thịt gà xé và thêm hành mùi xắt nhỏ. Dọn kèm tiêu muối hoặc nước mắm nguyên chất, chanh ớt… Đây là một món ăn bổ dưỡng rất thích hợp với người gầy yếu, sản phụ sau sinh thiếu sữa, trẻ em kém ngủ, tiêu hóa kém.

Bác sĩ Thanh Lan

Mùa hè khát cháy, đừng bỏ qua tác dụng giải nhiệt tuyệt vời của quả sấu

Gs.Ts. Đỗ Tất Lợi trong cuốn sách Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam đã mô tả cây sấu có tên khoa học là Drancontomelum duperreanum Pierre, thuộc họ Đào lộn hột (Amacardiaceae).

Đông y cho rằng quả sấu lúc xanh có vị chua hơi chát, khi quả chín có vị chua, ngọt, tính mát, có công năng kiện vị sinh tân, tiêu thực chỉ khát, chỉ ho, tiêu đờm, sử dụng trị nhiều bệnh chứng như nhiệt miệng khô khát, ngứa cổ, đau họng, nôn do thai nghén, say rượu, nổi mẩn, sưng, lở ngứa…

1. Trị nhiệt miệng, háo khát, ngứa cổ, đau họng

lấy quả sấu chín dầm đường hoặc muối ăn ngay trong ngày. Hoặc lấy từ 4 – 6g cùi quả sấu khô đem sắc với 2 bát nước còn nửa bát, uống sau bữa ăn sáng. Hoặc 8g cùi quả sấu khô hãm với nước sôi uống trong ngày. Dùng trong một tuần liền.

2. Trị nôn nghén cho phụ nữ mang thai

Lấy quả sấu nấu canh với cá diếc hay thịt vịt ăn cũng chóng lành. Hoặc dùng quả sấu xanh ngâm đường uống cùng giúp giảm nôn nghén, tuy nhiên không nên uống nhiều vì có thể gây tăng đường huyết cho bà bầu.

3. Chữa ho: Có nhiều cách dùng quả sấu chữa ho như sau:

Cùi quả sấu tươi 15g, ngâm với ít muối, ngày ngậm 3 – 5 lần, tốt nhất nên ngậm vào buổi sáng và tối trước khi đi ngủ.

Hoặc cùi sấu tươi 25g sắc với 250ml nước còn 100ml, chia làm 2 lần uống, khi uống cho thêm đường. Uống trong 3 ngày.

Hoặc lấy hoa, quả sấu sắc với 300ml nước còn lại 100ml, chia ra 2 – 3 lần uống trong ngày.

Chữa ho cho trẻ em: Lấy hoa sấu hấp cùng mật ong cho trẻ uống ngày vài lần sẽ hiệu nghiệm.

4. Tăng cường tiêu hóa

Lấy sấu hấp với đường làm nước giải khát uống trong ngày. Hoặc sử dụng quả sấu tươi nấu canh chua ăn ngay.

5. Chữa say rượu

Dùng 4 – 6g cùi quả sấu khô sắc lấy nước uống hoặc hãm với nước sôi mà uống. Hoặc dùng nước sấu ngâm đường và gừng để uống rất có hiệu quả.

6. Trị mụn nhọt, lở ngứa

Dùng lá ấu tươi đun nước tắm rửa hoặc lá sấu rửa sạch, giã nát, bọc bằng băng gạc sạch đắp lên vết mụn.

Món ăn với quả sấu có tác dụng thanh nhiệt giải khát

Nước canh rau muống, rau dền dầm sấu là món ăn khoái khẩu vào những ngày hè nóng nực, có vị thơm, chua dịu mát của sấu và tác dụng thanh nhiệt giải khát và kích thích tiêu hóa.

Mùa hè quả sấu tươi thường được sử dụng nấu canh chua với thịt nạc băm, canh sườn chua, canh thịt bò, canh cá. Hoặc dùng om với thịt vịt vừa ngon miệng vừa giải độc, thanh nhiệt.

Bạn có thể giữ đông lạnh quả sấu xanh để dùng quanh năm với các món canh nấu chua trong mùa đông tạo vị thanh, giảm nóng trong rất hiệu quả.

Quả sấu dầm với gừng, đường, ớt và chút nước mắm ngon sẽ kích thích vị giác, làm bữa ăn ngon miệng hơn, đồng thời lại có tác dụng tiêu thực.

Quả sấu chín ăn ngay với chút muối ớt như một món quà vặt hấp dẫn của các cô bé nhưng lại có tác dụng giải khát rất tuyệt vời.

Nước sấu ngâm đường và thêm chút gừng, vài viên đá sẽ là đồ uống thơm mát giải nhiệt cho mùa hè oi bức.

Ô mai sấu, mứt sấu đặc biệt ngon như một đặc sản khó quên của đất Hà thành.

Những người không nên ăn quả sấu và uống nước sấu

Quả sấu tươi thường có vị chua, nhất là khi còn xanh nên những người mắc bệnh viêm loét dạ dày tá tràng nên tránh dùng quả sấu tươi hoặc các đồ uống, món ăn có nhiều sấu. Bạn cũng không nên ăn sấu khi đang đói vì sẽ làm bạn cồn cào trong bụng và hại dạ dày.

Ngoài ra, trẻ dưới 12 tháng tuổi cũng nên hạn chế sử dụng quả sấu vì hệ tiêu hóa của trẻ rất nhạy cảm, dễ bị tác động bởi tính axit trong sấu.

Mùa hè chúng ta thường ngâm sấu làm nước giải khát. Tuy nhiên sấu được ngâm với rất nhiều đường nên nếu uống nhiều và trong nhiều ngày cũng không tốt cho sức khỏe vì có thể gây tăng đường huyết dẫn tói nguy cơ mắc các bệnh tiểu đường, béo phì, tim mạch...

Lựa chọn, bảo quản và chế biến quả sấu

Nên chọn loại quả bánh tẻ vừa già tới, màu xanh thẫm, cùi dày, vỏ hơi sần. Không nên chọn những quả bầm dập, quả sấu non (vỏ xanh mượt, hạt mềm) hay quả quá già (hạt to, thịt sấu mỏng, chỉ gần gọt quả vỏ cũng đã vào gần đến hạt).

Để dự trữ sấu ăn quanh năm, bạn cần bảo quản sấu trong ngăn đá tủ lạnh. Chọn những quả sấu bánh tẻ, rửa, gọt vỏ và rửa sạch, để ráo nước rồi chia sấu ra làm nhiều túi nhỏ vừa với một lần nấu, để vào ngăn đá tủ lạnh có thể sử dụng hàng năm.

Nếu bạn ngâm sấu làm nước sấu, sau khi chọn được những quả tốt nhất, lấy dao bổ quả sấu tách cùi và hạt ra rồi cho vào ngâm với nước vôi trong hoặc nước pha phèn chua. Ngâm vừa đủ tới thì cùi sấu trắng, dòn khi đem ngâm xong vẫn giữ được hương vị thơm và chua. Vớt ra rửa qua nước sạch, để khô ráo rồi đổ vào lọ. Cứ mỗi một lớp sấu lại rắc lên một lớp muối hoặc lớp đường mỏng rồi đậy kín nắp và đem cất vào nơi khô mát. Sau khoảng nửa tháng là có thể đem ra dùng.

Bs.Thu Nguyệt - Viện Y học ứng dụng Việt Nam

Hương nhu tía

Hương nhu tía là cây dùng để làm thuốc chữa bệnh rất quen thuộc trong nhân dân, trong y học cổ truyền hương nhu tía là vị thuốc chữa nhiều bệnh, đặc biệt là vị thuốc giải cảm khi bị lạnh hay đi mưa nhiễm lạnh rất hiệu quả. Xin giới thiệu một vài đơn thuốc chữa bệnh có sử dụng hương nhu tía.

Hương nhu tía còn có tên gọi là é rừng hay é tía. Cây thường mọc hoang ở nhiều nơi trong cả nước, nhưng cũng được trồng làm thuốc quanh nhà. Để làm thuốc chữa bệnh, thường thu hái hương nhu phần trên mặt đất, chủ yếu là cành có hoa, dùng tươi hoặc phơi ở nơi ít ánh nắng nhưng thoáng gió, nhiệt độ 30-40 độ C (gọi là phơi âm can). Hương nhu tía vị cay, mùi thơm, tính ấm, vào 2 kinh phế và vị có tác dụng làm ra mồ hôi, giải cảm, giảm sốt, lợi tiểu, dùng chữa cảm lạnh, tiêu chảy do lạnh, trị chứng hôi miệng...

Hương nhu trắng.

Chữa cảm lạnh hoặc đi mưa bị nhiễm lạnh (triệu chứng: phát sốt phát rét, đầu nhức, bụng đau, miệng nôn, đi tiêu lỏng..): Hương nhu tía 500g, hậu phác tẩm gừng nướng 200g, bạch biển đậu (đậu ván trắng) sao qua 200g, tất cả 3 vị tán nhỏ trộn đều. Mỗi lần dùng 8-10g pha với nước sôi để uống. Ngày uống 2 lần vào buổi trưa và tối sau bữa ăn. Dùng từ 2-3 ngày. Hoặc hương nhu tía 100g, tán nhỏ, mỗi lần dùng 8g, pha với nước sôi uống. Ngày uống 2 lần, uống khi nào mồ hôi ra được là khỏi bệnh.

Ngoài ra, để giúp giải cảm nhanh ngoài dùng bài thuốc trên nên kết hợp với nồi nước xông.

Hương nhu tía.

Hương nhu tía.

Cách làm: Hương nhu tía, lá sả, lá bưởi hoặc vỏ ngoài quả bưởi chín (bỏ cùi trắng, thái mỏng), ngải cứu, lá khuynh diệp (hoặc lá chè đồng, cây chổi xuể), lá tre, cành lá thanh táo, tía tô, lá gừng, húng chanh, mỗi vị 15g (các vị thuốc trên đều tươi). Tất cả rửa sạch, đặt vào nồi đổ 5-6 lít nước sạch. Đun vừa sôi đều 5 phút thì hạ lửa, lấy lá chuối tươi hoặc miếng vải mỏng bịt kín miệng nồi, đậy vung đun thêm cho sôi trở lại chừng 1 phút (để tích hơi nước).

Cách xông: Đặt nồi nước xông trong phòng kín gió. Người bệnh cởi bỏ quần áo, ngồi trước nồi nước xông còn đậy kín, trùm chăn đơn (vỏ bọc chăn bông, bằng vải) cho kín người và nồi nước xông. Ngẩng cao đầu, nghiêng sang một bên để tránh hơi nước nóng phả mạnh vào mặt, rồi từ từ hé vung nồi cho hơi nước thoát ra, sao cho độ nóng vừa ở mức chịu đựng được. Hít thở mạnh và sâu để hương tinh vào sâu trong phế nang. Thời gian xông hơi khoảng 15 phút. Lau sạch mồ hôi bằng khăn khô sạch. Pha thêm nước ấm sao cho đạt 37-38 độ rồi tắm trong phòng kín gió, lau khô cơ thể, mặc quần áo sạch. Nước xông giải cảm rất đơn giản, dễ làm và hiệu quả trong việc điều trị bệnh. Lưu ý: Không được áp dụng liệu pháp này cho người ra nhiều mồ hôi, mất nước, mất máu nhiều, chóng mặt, già yếu lú lẫn, bệnh nhân parkinson, trẻ em dưới 12 tuổi...

Trị chứng hôi miệng: Hương nhu tía 10g sắc với 200ml nước còn 100ml. Dùng nước sắc từ hương nhu để súc miệng và ngậm hàng ngày, nên dùng vào buổi sáng và tối trước khi đi ngủ. Dùng liên tục trong 15 ngày.

Giúp tóc nhanh dài, bóng mượt: Hương nhu tía, lá bưởi (hoặc vỏ bưởi), quả bồ kết khô (đã đốt qua), mỗi vị 10g, nấu với 3 lít nước, pha ấm gội đầu. Tuần gội 2 lần, giúp tóc nhanh dài và rất mượt.

Chữa tiêu chảy do lạnh bụng: Hương nhu tía 12g, tía tô (lá và cành), mộc qua, mỗi vị 9g, sắc nước với 3 bát nước còn 1 bát, uống trong ngày sau bữa ăn sáng.

Chữa phù thũng, nước tiểu đục: Hương nhu tía 9g, bạch mao căn (rễ cỏ tranh) 30g, ích mẫu thảo 12g, sắc với 600ml nước còn khoảng 200ml, uống thay trà hàng ngày. Mỗi liệu trình điều trị trong 10 ngày.

Trẻ chậm mọc tóc: Hương nhu tía 40g, sắc với 200ml nước, cô đặc, trộn với mỡ lợn, ngày bôi 1-2 lần. Trước khi bôi cần vệ sinh da đầu cho trẻ sạch sẽ tránh viêm nhiễm do da đầu bụi, bẩn.

Lưu ý: Những người hay ra nhiều mồ hôi không nên dùng đơn thuốc có sử dụng hương nhu tía.

Phân biệt hương nhu tía và trắngHương nhu tía: Là loại cây nhỏ, sống hàng năm hoặc nhiều năm: có thể cao 1,5-2m. Thân và cành thường có màu tía, có lông quặp. Lá có cuống dài, thuôn hình mác hay hình trứng, dài 1-5cm, mép có răng cưa, 2 mặt đều có lông. Hoa màu tím, mọc thành chùm, xếp thành từng vòng từ 6 đến 8 chiếc trên chùm, ít khi phân nhánh. Hương nhua tía thường được dùng làm thuốc trong Đông y.Hương nhu trắng (có tên gọi là é lớn): Là cây thường cao hơn hương nhu tía. Lá mọc đối, có cuống, phiến lá dài 5-10cm, hình trứng nhọn, phía cuống thon, mép khía tai bèo hay răng cưa thô. Trên gân chính của lá có lông. Hoa nhỏ mọc thành xim đơn 6 hoa, xếp thành chùm, đôi khi ở phía dưới có phân nhánh. Hương nhu trắng có hàm lượng tinh dầu cao hơn hương nhu tía, nên có mùi hắc và khó uống. Chủ yếu được khai thác để cất tinh dầu.

Bác sĩ Hoàng Minh



Quả óc chó bổ thận tráng dương

Quả hồ đào một số địa phương gọi quả óc chó. Cây hồ đào thường chỉ có ở vùng núi cao, nhiều nhất là vùng cao nguyên đá thuộc tỉnh Hà Giang, ở Trung Quốc chỉ có vùng sa thạch dụ là nhiều nhất (vùng cát đá sỏi không có đất). Cây thuộc loại lưu niên, mùa xuân ra hoa, mùa thu quả chín thu hoạch quả, bỏ vỏ lấy hạt phơi hoặc sấy khô làm thức ăn và làm thuốc. Ở những vùng có nhiều cây hồ đào người ta thu hái về phơi khô đem bán làm thực phẩm.

Hạt hồ đào bỏ vỏ cứng bên ngoài lấy nhân bên trong gọi hồ đào nhục (thịt trong quả) cũng có địa phương gọi hồ đào hạch. Là vị thuốc quý trong Đông y: nhân của quả hồ đào có vị ngọt, béo, tính ấm, vào các kinh phế, can, thận. Có tác dụng ôn bổ hạ tiêu, thu nạp thận khí. Điều trị chứng thận khí hư do hàn chứng, hen suyễn, nam giới tinh quan đóng không kín nên dễ sinh chứng di tinh, hoạt tinh, làm cho thận khí hao tổn. Liều lượng ngày dùng 20-40g dưới dạng thuốc sắc hoặc viên hoàn. Gần đây có tài liệu cho rằng nhân của quả hồ đào có tác dụng điều hòa mỡ trong máu, tốt cho tim mạch nhưng chưa được kiểm chứng. Dưới đây là một số bài thuốc Đông y có hồ đào nhục.

Quả hồ đào (còn gọi là quả óc chó).

Quả hồ đào (còn gọi là quả óc chó).

Bài Thanh nga hoàn: hồ đào nhục 160g, bổ cốt chỉ (sao rượu) 160g, đỗ trọng 160g (tẩm nước muối sao), đại toán (tỏi khô, bỏ vỏ) 160g.

Cách dùng: Tán bột trộn với mật ong làm viên hoàn, mỗi viên 5g, ngày uống hai lần mỗi lần uống 2 viên trước khi ăn, uống với nước đun sôi để ấm. Uống liên tục 60 ngày. Bài thuốc có tác dụng bổ thận tráng dương, diên niên, ích khí, trị chứng thận hư đau lưng.

Bài Ban long hoàn: thục địa 16g, thỏ ty tử 16g, bổ cốt chỉ 12g, bá tử nhân 12g, phục thần 12g, cao ban long 20g, hồ đào nhục 16g.

Cách dùng: Ngày uống một thang, sắc uống 3 lần trong ngày, uống trước khi ăn. Công dụng: Bổ thận, tráng dương, cố tinh. Trị chứng liệt dương, di tinh, xuất tinh sớm, sinh lý giảm sút, tinh thần mệt mỏi, choáng váng, tay chân lạnh mà yếu.

Hoặc bài Bổ thận dưỡng huyết thang: hồ đào nhục 16g, bạch thược 4g, bổ cốt chỉ 12g, câu kỷ tử 6g, đan sâm 12g, đỗ trọng 12g, đương quy 8g, hồng hoa 2g, nhục thung dung 4g, sơn thù 4g, sung úy tử 12g, thỏ ty tử 12g, thục địa 12g. Sắc uống. Công dụng: Bổ can thận, do can thận hư tổn đau nhức trong xương, gãy xương làm cho xương chóng liền. Hoặc trong bài Bổ não chấn nuy gồm: hồ đào nhục 15g, hoàng kỳ 60g, đương quy 24g, long nhãn nhục 24g, sơn thù 15g, giá trùng 3 con, địa long 9g, nhũ hương 9g, một dược 9g, lộc giác giao 6g, mã tiền (chế) 0,9g.

Cách dùng: Các vị thuốc trên sắc kỹ bỏ bã, cho lộc giác giao vào hòa tan, chia 2 lần uống, mã tiền chế tán thành bột mỗi lần uống 0,45g, uống sau khi ăn sáng và ăn tối 15 phút, khi thuốc còn ấm. Bài thuốc có tác dụng trị chứng liệt nửa người, mạch vi tế, cơ thể suy nhược.

Bài thuốc dân gian: Lấy thận lợn 2 quả, bổ đôi làm sạch, mỗi quả thận cho 20g hồ đào nhục vào bên trong, kẹp nướng chín ăn lúc đói, chấm với nước mắm tỏi pha loãng, uống với 30ml rượu sạch. Cách một ngày ăn một lần, ăn liên tục 10 ngày để trị chứng đau lưng do thận hàn yếu.

TTND. BS. Nguyễn Xuân Hướng

Tật lê bổ thận, trị đau lưng

Còn gọi là bạch tật lê, gai ma vương, thích tật lê, gai sầu, gai trống, gai yết hầu

Tên khoa học Tribulus terrestris. Họ khoa học: Tật lê.

Mô tả cây

Bạch tật lê là loại cỏ bò lan trên mặt đất nhiều cành dài 2 - 3m, kép lông chim lẻ, 5 - 6 đôi lá chét đều, phủ lông trắng mịn ở mặt dưới. Hoa màu vàng, mọc riêng ở kẽ lá, cuống ngắn, 5 lá đài 5 cánh hoa, 10 nhị, 5 bầu ô. Hoa nở vào mùa hè. Quả nhỏ khô, gồm 5 vỏ cứng trên có gai hình 3 cạnh, dưới lớp vỏ dày là hạt có phôi không nội nhũ

Thành phần dùng làm thuốc tật lê là quả chín phơi hay sấy khô của cây tật lê. Vì quả có gai, giẫm phải thường sinh bệnh thối thịt như bị ma quỷ cho nên còn có tên gai ma vương.

Tật lê bổ thận, trị đau lưngBạch tật lê


Phân bố, thu hái và chế biến: tật lê mọc hoang ở ven biển, ven sông các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Bình Thuận và các tỉnh phía nam nước ta. Còn mọc ở các nước á nhiệt đới. Vào các tháng 8 - 9, quả chín thì đào cả cây hay cắt lấy phần trên cây về, phơi khô, dùng gậy cứng đạp và chọn lấy những quả già. Thường dùng sống hay hơi sao qua cho cháy gai rồi sàng sảy bỏ gai giã nát vụn mà dùng.

Mô tả dược liệu: quả bạch tật lê đến lúc tách ra thành từng quả con. Quả con hình tam giác, màu trắng vàng ngà, vỏ cứng dầy có gai. Thứ khô, to, chắc, không lẫn tạp chất lá tốt. Bỏ gai vào nồi chõ, đồ trong 3 giờ, phơi khô, bỏ vào cối giã cho hết gai, lại tẩm rượu, đồ 3 giờ, phơi khô, cất dùng (Lôi Công bào chế dược tính luận). Khi dùng vào thuốc thang hay hoàn tán phải sao, giã nát, rồi sàng bỏ gai mới dùng (Nhật Hoa Tử bản thảo).

Kinh nghiệm bào chế hiện nay: sao cho cháy gai rồi giã xong sàng sảy bỏ hết gai mới dùng. Hoặc bỏ vào trong nước rửa sạch, vớt bỏ những hạt nhẹ hoặc các tạp chất nổi trên mặt nước, sao vàng, nghiền cho hết gai. Khi dùng tán bột để dùng hay sấy khô.

Thành phần hóa học: các công trình nghiên cứu cho thấy trong quả tật lê có chứa các chất: Ancaloit 0,001%, chất béo 3,5%, tinh dầu, rất nhiều natri, phylloerythrin, tannin, flavonozit, nhiều saponin mà trong đó có diosgenin là hoạt chất có tác dụng tăng cường sinh lý.

Tính vị: vị cay, đắng, tính ôn (sao tính ấm; để sống tính bình).

Quy kinh: vào kinh can và phế.

Tật lê bổ thận, trị đau lưng

Tác dụng và ứng dụng lâm sàng

Tác dụng: có tác dụng bình can, tán phong, thắng thấp, hành huyết, dùng chữa các bệnh nhức đầu, mắt đỏ, nhiều nước mắt, phong ngứa, tích tụ, tắc sữa. Những người huyết hư, khí yếu không dùng được.

Hiện nay tật lê thường được dùng chữa đau mắt, nhức vùng mắt, chảy nước mắt. Ngoài ra còn dùng làm thuốc bổ thận, trị đau lưng, tinh dịch không bền, gầy yếu, chảy máu cam, lỵ, súc miệng chữa loét miệng.

Ứng dụng lâm sàng: chữa kinh nguyệt không đều, thấy kinh đau bụng: tật lê 12g, đương quy 12g, nước 400ml, sắc còn 200ml, chia 2 lần uống trong ngày.

Chữa đau mắt: cho tật lê vào chén nước. Đun sôi. Hứng mắt vào hơi nước.

Trị đau mắt, mờ mắt, ngứa hay chảy nước mắt bạch tật lê 12g, bạch cúc hoa 9g, sắc 3 chén nước còn 2 chén, chia 2 lần uống sáng tối (Trung Quốc Dược học đại từ điển).

Trị lở ngứa ngoài da bạch tật lê 9g, kinh giới 6g, thổ phục linh 6g, ý dĩ, thương nhĩ tử đều 3g, sắc uống (Trung Quốc Dược học đại từ điển).

Tật lê cũng có tác dụng bổ Thận, bổ Can nhưng các bài thuốc bổ ít thì dùng đến, phần nhiều để dùng chữa lở ngứa (Bách Hợp Thích tật lê và Sa uyển tật lê cùng tên mà khác vị.

BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ